Monday, 24/02/2020 - 00:42|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THỬ NGHIỆM CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÀ MAU
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG KHMER THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đội ngũ giáo viên (ĐNGV) luôn được xem là lực lượng cốt cán của sự nghiệp GD-ĐT, là nhân tố chủ đạo quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”

Đặt vấn đề

Đội ngũ giáo viên (ĐNGV) luôn được xem là lực lượng cốt cán của sự nghiệp GD-ĐT, là nhân tố chủ đạo quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”. Do đó, muốn phát triển GD-ĐT, phải chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV. Điều đó cũng thể hiện rõ trong Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đã chỉ rõ: “Mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lí, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”. Trong điều 15 của Luật Giáo dục cũng đã ghi rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”.

          Trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, đội ngũ nhà giáo nói chung và ĐNGV dân tộc nói riêng, đặc biệt giáo viên (GV) dạy tiếng Khmer nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

          Bài viết tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc nghiên cứu phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường phổ thông dân tộc (PTDT) khu vực Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) - một trong những thành tố quan trọng góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ người dân tộc; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

          1. Những nghiên cứu về “nguồn nhân lực”

          1.1. Trên thế giới: Những năm cuối thập niên 60 của thế k XX, các khái niệm “vốn con người” (Human capital) và “nguồn lực con ng­ười” (Human  resources) xuất hiện ở Hoa Kì và sau đó thịnh hành trên thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học ng­ười Mĩ - Theodor Schoultz), sau đó vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế ng­ười Mĩ Gary Backer - người đã từng nhận giải Nobel kinh tế năm 1992 [1] . Vấn đề phát triển ĐNGV cũng được ông giải quyết với tư­ cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách thức giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử.

          Từ năm 1980, nhà xã hội học ngư­ời Mĩ Leonard Nadler đã đư­a ra sơ đồ quản lí nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí nguồn nhân lực. Ông cho rằng, quản lí nguồn nhân lực phải có 3 nhiệm vụ chính là: 1) Phát triển nguồn nhân lực (GD-ĐT, bồi d­ưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); 2) Sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); 3) Môi trư­ờng nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức) [2] .

          Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadler đã được nhiều nư­ớc trên thế giới sử dụng. Christian Batal (Pháp,) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước[3] cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lí thuyết tổng thể về quản lí phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học...) để đư­a ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lí phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực.

        Các tác giả Brian E.Becker và Markv A.Huselid [4] cũng có sự khai thác tương tự, nhưng để phục vụ cho quản trị nhân sự trong doang nghiệp.

Tựu trung lại, những công trình nghiên cứu trên thế giới về quản lí phát triển nguồn nhân lực đã đi đến những kết luận khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận và xuất phát điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn rất cần những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam nói chung, ĐNGV nói riêng trong bối cảnh đổi mới hiện nay.

1.2. Ở Việt Nam: Tác giả Nguyễn Lộc trong bài viết: “Một số vấn đề lí luận về phát triển nguồn nhân lực”, đã nêu lên một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò quyết định của nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH của một quốc gia. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực được xem xét dưới những góc độ như đặc trưng của phát triển nguồn nhân lực, xác định chỉ số phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực [20].

Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) với “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào CNH, HĐH” đã phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn thực hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển con người, nguồn nhân lực con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất và tinh thần; trình bày mối quan hệ giữa GD-ĐT, sử dụng và tạo việc làm với phát triển nguồn nhân lực đất nước; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của GD-ĐT đối với việc phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH [6] .

Vũ Văn Phúc - Nguyễn Duy Hùng (2012) trong nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” đã trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn phát triển nguồn nhân lực đất nước hiện nay [7].

Phạm Thành Nghị (2007) khi nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lí nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước” đã đề cập đến những vấn đề lí luận cơ bản về nguồn nhân lực và quản lí nguồn nhân lực; phân tích hiệu quả quản lí nguồn nhân lực và những yếu tố tác động đến quản lí nguồn nhân lực nước ta trong quá trình CNH, HĐH đất nước [8].

Nguyễn Hữu Tiệp (2010) trong cuốn “Giáo trình nguồn nhân lực” đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, quản lí, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực của đất nước [8].

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Trần Thị Bạch Mai trong nghiên cứu của mình về quản lý nguồn nhân lực đã nêu ra những vấn đề gây cấn, những chính sách, các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của nước ta từ những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia trên thế giới. Những vấn đề này tuy đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau trong quản lí, phát triển nguồn nhân lực nhưng chỉ ở mức độ vĩ mô [10].

          Tác giả Đặng Quốc Bảo - Đỗ Quốc Anh - Đinh Thị Kim Thoa với tác phẩm “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV” [11] , Phạm Thành Nghị với tác phẩm “Nâng cao hiệu quả quản lí nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước” [8], Trần Khánh Đức với tác phẩm “Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI” [12]... Các công trình nghiên cứu trên đây bàn về phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò của nguồn nhân lực nói chung và ĐNGV nói riêng trong phát triển KT-XH. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung có thể rút ra là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển KT-XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận dụng, với những giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta.

         Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước về phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò của nguồn nhân lực nói chung và ĐNGV nói riêng trong phát triển KT-XH. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm đầu của thế k XXI. Tuy nhiên, vẫn rất cần những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nói chung, ĐNGV nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

  2. Những nghiên cứu về phát triển ĐNGV

  2.1. Trên thế giới: Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem hoạt động bồi dưỡng ĐNGV là vấn đề cơ bản đối với phát triển giáo dục. Việc tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy là phương châm hành động của các cấp quản lí giáo dục.

  Ở Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu quản lí giáo dục như M.I.Kônđacốp, P.V.Khuđominxki… đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lí có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học, phải có ĐNGV có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng, kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí công tác quản lí bồi dưỡng, phát triển đội ngũ.

  Vào năm 1988, Ấn độ đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực. Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nêpan vào năm 1998 về tổ chức quản lí nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng ĐNGV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng GV để tạo điều kiện thuận lợi cho họ tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

  Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, cán bộ quản lí giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tuỳ theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lí giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3-5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học.

  Ở Triều Tiên, một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo cho ĐNGV. Tất cả GV đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đưa ra “Chương trình bồi dưỡng GV mới” để bồi dưỡng ĐNGV được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa GV đi tập huấn ở nước ngoài.

  Ở Philippines, công tác nâng cao chất lượng ĐNGV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm í học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo.

  Ở Thái Lan, từ năm 1998, việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.

          Nhìn chung, tất cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính: 1) Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp GV; 2) Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ thực tiễn để phát triển nghề nghiệp GV; 3) Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV; 4) Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục.

  2.2. Ở Việt Nam: Kể từ sau cách mạng tháng tám thành công và các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “đổi mới” nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng và phát triển ĐNGV như:

  Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu [13] đã đề cập đến ba cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển ĐNGV hiện nay: 1) Tiếp cận quản lí và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Christian Batal [3] ; 2) Tiếp cận theo phương pháp quản lí, gồm: phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền; phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; 3) Tiếp cận theo nội dung phát triển ĐNGV. Từ đó, các tác giả khẳng định: Việc lựa chọn cách tiếp cận nào là do ý thức lí luận và kết quả phân tích thực tiễn giáo dục của nhà nghiên cứu hay nhà quản lí quyết định.

  Tác giả Lê Đức Ngọc trong cuốn “Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp” [14], khi đề cập đến vấn đề đổi mới công tác GV để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng đã cho rằng: Có hai lí do chính làm cho vấn đề ĐNGV trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà trường ĐH: 1) Trình độ của đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa; 2) Chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trường đại học, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo.

  Trong chuyên khảo “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ GV”, các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa, sau khi đề cập những vấn đề chung về phẩm chất - năng lực người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới, cuốn sách đã đề ra các con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa [8].       

  Từ sau Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành về phát triển KT-XH vùng ĐBSCL, các nhà nghiên cứu giáo dục và quản lí giáo dục đã có những quan tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực cho GD-ĐT. Những nghiên cứu đăng trên các báo và tạp chí, như: “Tạo nguồn lực cho ĐBSCL” của nhóm phóng viên Ban khoa giáo [15]; “Phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL” của Trần Kim Dung [16]; “Giáo dục ĐBSCL - Thời gian không đợi” của Võ Đăng Thiên [17] đều nêu lên những khó khăn, những yếu kém, bất cập về GD-ĐT khu vực ĐBSCL; từ đó, các tác giả đề xuất sự cần thiết phải có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với tính đặc thù, tính chuyên biệt, một sự hỗ trợ tổng lực các nguồn lực, hội tụ trí tuệ và tấm lòng cả nước.  

          Có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu về phát triển ĐNGV chủ yếu theo ba hướng: 1) Nghiên cứu phát triển ĐNGV dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; 2) Nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; 3) Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển ĐNGV trong thời kì CNH, HĐH.

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận định như sau: Phát triển ĐNGV là vấn đề của thời đại, của các nước trong xu thế hội nhập; GD-ĐT được xem là quốc sách hàng đầu; Đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư cho phát triển; ĐNGV có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục. Phát triển ĐNGV cần quan tâm thực hiện tốt việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thanh tra, xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên, xây dựng các chế độ, chính sách đối với giáo viên; Nghiên cứu về phát triển ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lí giáo dục, tập trung vào hai mảng chính là nghiên cứu phát triển ĐNGV theo cấp học, ngành học và nghiên cứu phát triển ĐNGV cho từng cơ sở giáo dục thuộc cấp học, ngành học.

          3. Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục và giảng dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT)

  Một số vấn đề về giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang của Nguyễn Hữu Hạnh đã chỉ ra thực trạng giáo dục vùng đồng bào dân tộc Khmer; Thực trạng GV vùng dân tộc Khmer; Giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV vùng dân tộc Khmer [18].

  Nghiên cứu chính sách dân tộc với sự nghiệp phát triển giáo dục dân tộc của Hà Đức Đà khẳng định, những thành tựu phát triển giáo dục trong những năm qua là kết quả của sự phấn đấu không mệt mỏi của các thầy, cô giáo, các cháu học sinh, của ngành giáo dục và toàn xã hội. Những thành tựu đó còn là kết quả của sự tác động của chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, từ đó giải quyết các vấn đề riêng của vùng dân tộc: Nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ người dân tộc; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc [19].

  Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Phạm Vũ Kích về mô hình trường PTDTNT: “Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhằm hoàn thiện mô hình trường PTDT NT” [20] đã xác định một số vấn đề cơ bản nhằm hoàn thiện những thành tố chủ yếu của trường PTDTNT góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của trường.

          Nghiên cứu các hoạt động giáo dục và giảng dạy trong các trường PTDTNT có công trình nghiên cứu cấp Bộ do Hoàng Văn Sán làm chủ nhiệm với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng nội dung giáo dục văn hóa dân tộc trong trường PTDTNT” [21] kết quả nghiên cứu đề tài đã chỉ ra: Nội dung văn hóa dân tộc phải được giáo dục và giảng dạy có định hướng với một số hệ thống chuẩn mực các giá trị hàm chứa trong nó sẽ đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách cho học sinh và góp phần đáng kể vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

  Hoàng Văn Sán, Lương Hồng Trí với đề tài: “Nhìn lại quá trình nghiên cứu và tổ chức dạy học tiếng dân tộc trong nhà trường từ trước đến nay” [22] đã chỉ ra: 1) Nghiên cứu xây dựng chữ viết và đưa chữ viết dân tộc vào giảng dạy trong nhà trường và cộng đồng; 2) Nghiên cứu các hình thức (hay mô hình) dạy - học tiếng dân tộc; 3) Nghiên cứu giảng dạy tiếng dân tộc theo quan điểm giáo dục song ngữ.

          Nguyễn Thanh Thủy với đề tài: “Dạy học nêu vấn đề và việc dạy học ở vùng dân tộc” [23] đã đề cập đến những biểu hiện của dạy học nêu vấn đề trong quá trình dạy học diễn ra với học sinh dân tộc và một số tình huống có vấn đề cần quan tâm nhằm kích thích hoạt động tự chủ, tích cực và sự sáng tạo của học sinh.

  Phạm Đình Thái với đề tài: “Đẩy mạnh giáo dục lao động hướng nghiệp - một nhiệm vụ cơ bản của các trường PTDTNT” [24] đã đề cập tới ba nội dung cơ bản: 1) Tầm quan trọng của giáo dục lao động hướng nghiệp trong các trường PTDTNT; 2) Một số nét về tình hình giáo dục lao động hướng nghiệp ở các trường PTDTNT; 3) Phương hướng và biện pháp triển khai thực hiện giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp.

  Tóm lại, phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer với t­ư cách là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, nguồn nhân lực đặc biệt của các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL là vấn đề cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu của nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Đã có những thành tựu quan trọng về nội dung nghiên cứu này và nhận thức được ý nghĩa chiến lược của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ chuyên sâu vào từng lĩnh vực nhất định của vấn đề, hoặc các đề tài khoa học lại gắn với vùng miền cụ thể. Việc khai thác tổng hợp sơ đồ quản lí nguồn nhân lực và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, nhằm đồng bộ hóa hệ thống giải pháp phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer theo chuẩn nghề nghiệp các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL hiện vẫn còn bỏ ngỏ. Đó là nội dung chính cần tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ, bài bản, khoa học và có hệ thống để làm sáng tỏ trong nghiên cứu khoa học của mình.

***

Từ những nghiên cứu về lí luận và thực tiễn trên đây, để phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL, cần làm rõ được tính phổ biến và tính đặc thù trong quá trình xây dựng, phát triển đội ngũ này. Cần dựa trên cách tiếp cận quản trị nguồn nhân lực, đồng thời chú trọng đến tính đặc thù, chú trọng đến bối cảnh trong nước, khu vực và quốc tế trong xu thế hội nhập tác động đến quá trình xây dựng, phát triển ĐNGV dạy tiếng Khmer. Hướng nghiên cứu này đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta đang tiến hành đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới. Đây là vấn đề có tính thời sự không chỉ đối với ngành giáo dục mà của toàn xã hội. Có làm được như thế, chúng ta mới hi vọng nâng tầm hệ thống giáo dục nói chung và hiệu quả giáo dục vùng đồng bào dân tộc nói riêng. Chúng tôi hi vọng, công tác giáo dục ở các trường PTDTNT khu vực ĐBSCL có những chuyển biến khả quan, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và cách tân, hoàn thiện ĐNGV dạy tiếng Khmer nói riêng, các trường PTDTNT coi việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực GV có ý nghĩa chiến lược, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Đặng Quốc Bảo - Tr­ương Thị Thuý Hằng (2003). Một số cách tiếp cận phạm trù “nhân tố con ng­ười” trong lí thuyết phát triển và phương án đo đạc. Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4/2003, tr 4.

[2] Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doan (2001). Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.

[3] Christian Batal (2002). Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực Nhà n­ước (2 tập), NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.

[4] Brian E.Becker và Markv A.Huselid (2002). Quản lí nhân sự (sổ tay người quản lí). NXB TP. Hồ Chí Minh.

[5] Nguyễn Lộc (2010). Một số vấn đề lí luận về phát triển nguồn nhân lực. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr 2.

[6] Phạm Minh Hạc (2001). Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.

[7] Vũ Văn Phúc - Nguyễn Duy Hùng (Chủ biên) (2012). Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. NXB Chinh trị Quốc gia - Sự thật.

[8] Phạm Thành Nghị (2007). Nâng cao hiệu quả quản lí nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. NXB Khoa học Xã hội.

[9] Nguyễn Hữu Tiệp (2010). Giáo trình nguồn nhân lực. NXB Lao động - Xã hội.

[10] Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Trần Thị Bạch Mai (2009). Quản lí nguồn nhân lực Việt Nam. NXB Giáo dục.

[11] Đặng Quốc Bảo - Đỗ Quốc Anh - Đinh Thị Kim Thoa (2007). Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên, NXB Lí luận Chính trị, Hà Nội.

[12]Trần Khánh Đức (2014). Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam.

[13] Bùi Văn Quân - Nguyễn Ngọc Cầu (2006). Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ giảng viên. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 8 (tháng 5/2006), tr 44.

[14] Lê Đức Ngọc (2004). Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

[15] Nhóm phóng viên Ban khoa giáo (2005). Phóng sự điều tra: Tạo nguồn lực cho Đồng bằng sông Cửu Long. Báo Nhân dân (cập nhật các ngày 10 và 11/9/2005).

[16] Trần Kim Dung (2006). Phát triển nguồn nhân lực Đồng bằng sông Cửu Long. Báo Nhân dân, ngày 11/2/2006.

[17] Võ Đăng Thiên (1999). Giáo dục Đồng bằng sông Cửu long - Thời gian không đợi. Tạp chí Cộng sản, số 11 (tháng 6/1999), tr 56.

[18] Nguyễn Hữu Hạnh (2006). Một số vấn đề về giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 15 (tháng 12/2006), tr 51-52.

[19] Hà Đức Đà (2011). Chính sách dân tộc với sự nghiệp phát triển giáo dục dân tộc. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 68 (tháng 5/2011), tr 56-60.

[20] Phạm Vũ Kích. Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhằm hoàn thiện mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, mã số B06049-23.

[21] Hoàng Văn Sán. Nghiên cứu xây dựng nội dung giáo dục văn hóa dân tộc trong trường phổ thông dân tộc nội trú. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, mã số C98-49-3.

[22] Hoàng Văn Sán - Lương Hồng Trí (2001). Nhìn lại quá trình nghiên cứu và tổ chức dạy học tiếng dân tộc trong nhà trường từ trước đến nay. Kỉ yếu hội thảo "Thành tựu 40 năm nghiên cứu khoa học giáo dục dân tộc", tr 85-87. Hà Nội, tháng 10/2001.

[23] Nguyễn Thanh Thủy (2001). Dạy học nêu vấn đề và việc dạy học ở vùng dân tộc. Kỉ yếu hội thảo "Thành tựu 40 năm nghiên cứu khoa học giáo dục dân tộc", tr 101-105. Hà Nội tháng 10/2001.

[24] Phạm Đình Thái (2001). Đẩy mạnh giáo dục lao động hướng nghiệp - một nhiệm vụ cơ bản của các trường phổ thông dân tộc nội trú. Kỉ yếu hội thảo "Thành tựu 40 năm nghiên cứu khoa học giáo dục dân tộc", tr 106-113. Hà Nội, tháng 10/2001.


Tác giả: Lê Hoàng Dự - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Cà Mau
Nguồn: sogddt.camau.gov.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết